Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Các mức phạt với xe máy - ôtô khi chạy quá tốc độ

Theo khoản 11 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định là hành vi bị nghiêm cấm.
Theo Điều 5, Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, mức xử phạt vi phạm hành chính đối với ôtô và xe máy do vượt quá tốc độ cho phép được quy định như sau:
Hành vi điều khiển xe quá tốc độMức phạt với ôtôMức phạt với xe máy
Quá tốc độ quy định từ 5 km/h đến dưới 10 km/hTừ 600.000 đến 800.000 đồngTừ 100.000 đến 200.000 đồng.
Quá tốc độ từ 10 km/h đến 20 km/hTừ 2.000.000 đến 3.000.000 đồngTừ 500.000 đến 1.000.000 đồng
Từ trên 20 km/hQuá tốc độ từ 20 km/h đến 35 km/hTừ 5.000.000 đến 6.000.000 đồngTừ 3.000.000 đến 4.000.000 đồng
Quá tốc độ trên 35 km/hTừ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng
Với các quy định trên, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP không quy định mức phạt tiền đối với hành vi điều khiển xe vượt quá tốc độ dưới 5km/h. Do đó, nếu điều khiển xe máy vượt quá tốc độ 2km/h mà bị xử phạt 200.000 đồng là không đúng.
Theo khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt. Nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.
Tuy vậy, nếu trên tuyến đường có biển báo hiệu về hạn chế tốc độ tối đa mà người điều khiển xe vượt quá tốc độ quy định dưới 5km/h thì có thể bị xử phạt về hành vi không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu. Mức phạt lỗi này với tài xế là từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng, với tài xế ôtô là 100.000 đồng đến 200.000 đồng (Điều 5.1.a Nghị định 46/2016/NĐ-CP).

Cách nhận diện 'yêu râu xanh' ẩn mình

Người khó có khả năng thỏa mãn nhu cầu tình dục sẽ dễ nảy sinh hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

Không chỉ ở Việt Nam, tội phạm xâm hại trẻ em trên thế giới đều thuộc một trong hai loại: người bị bệnh lý về tình dục và người bình thường.
Những người bị bệnh lý về tình dục (lệch lạc hành vi tình dục), họ có những nhu cầu, sở thích, hành vi tình dục khác nhau. Có người bị bệnh phô dâm, thị dâm, ác dâm, ấu dâm, lão dâm… hoặc nhiều hành vi lệch lạc khác.
Những người có hành vi tình dục bình thường nhưng do điều kiện công việc, sinh hoạt, cuộc sống hôn nhân có những khiếm khuyết trong việc thỏa mãn nhu cầu tình dục lại là những "yêu râu xanh" khó đề phòng nhất. Chẳng hạn những người độc thân, chưa có bạn gái hay vợ, bạn gái ở xa... Họ liều lĩnh thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em bởi nghĩ rằng nhận thức của trẻ em còn hạn chế nên rất dễ dụ dỗ và che giấu.
Nhiều người còn nghĩ hành vi xâm hại nghiêm trọng thường để lại dấu vết nhưng với hành vi dâm ô như ôm bế, sờ mó, động chạm vào vùng nhạy cảm… thì không. Vì thế khi bị công an bắt, họ thường chối tội đến cùng.
Một số giải pháp phòng chống xâm hại tình dục trẻ em ở khu trọ
- Cha mẹ, nhà trường cần trang bị cho trẻ các kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cơ bản, quan tâm quản lý, theo dõi, giám sát con khi sinh hoạt, vui chơi ở khu nhà trọ.
- Chính quyền địa phương khi phê duyệt giấy phép xây dựng cần phải tính toán bảo đảm khu vực vui chơi, giải trí ở các khu nhà trọ cho trẻ em. Cần bắt buộc đưa nội dung phòng chống xâm hại tình dục trẻ em vào nội quy của khu phòng trọ.
- Người dân ở khu phòng trọ cần quan tâm phát hiện, lên án, tố cáo hành vi xâm hại tình dục của kẻ xâm hại ở khu nhà trọ, kịp thời báo với các cơ quan chức năng để xử lý nghiêm hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
- Chủ nhà trọ cần phải có trách nhiệm quản lý chặt chẽ khách ở trọ, tạo điều kiện, không gian vui chơi cho trẻ. Nếu có điều kiện nên trang bị camera an ninh ở khu nhà trọ, nghiên cứu xây dựng nội quy khu nhà trọ trong đó có nội dung ứng xử, giao tiếp với trẻ em ở khu nhà trọ.

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Có được giữ lại hết tài sản khi ly hôn cô vợ ngoại tình?

Theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó. Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch…
Nội dung trên còn được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 1/6, cụ thể như sau:
1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà tòa án xử lý như sau:
a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;
4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
a) "Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng" là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
b) "Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
c) "Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập" là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
d) "Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng" là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên".
Theo quy định vừa trích dẫn ở trên thì về nguyên tắc khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi nhưng tòa án sẽ xem xét đến một số yếu tố như hoàn cảnh gia đình của vợ, chồng, công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì tài sản, lỗi của các bên... Do đó, đối chiếu với trường hợp của bạn, khi giải quyết vụ án ly hôn, nếu có căn cứ xác định được vợ bạn có hành vi ngoại tình và bạn là người có đóng góp nhiều hơn trong việc tạo lập cũng như duy trì khối tài sản chung thì tòa án sẽ quyết định việc chia tài sản hợp lý để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Ba điểm lưu ý tránh bị lừa khi mua nhà

Có căn chung cư được bán cùng lúc cho 6 người, có nhà đầu tư mua 9 căn thì tất cả đều bị bán trùng... 

Nguyễn Hồng Minh thành lập Công ty Xây dựng Delta nhưng làm ăn thua lỗ. Một lần đi ngang qua khu đô thị Việt Hưng (Hà Nội), thấy căn biệt thự đang xây thô 3,5 tầng, vợ chồng giám đốc này nảy ra ý định làm giả giấy tờ để bán. 
Tháng 2/2010, Minh thuê người làm giả 3 bộ hồ sơ đứng tên mình. Có “bảo bối” trong tay, Minh và vợ Phạm Thị Hà đã chào bán căn biệt thự với bà Vinh. Xem hồ sơ và kiểm tra thực tế, người đàn bà trung niên đồng ý mua với giá 4,6 tỷ đồng. Một tháng sau, bà ký hợp đồng, đặt cọc 1,8 tỷ đồng.
Vài ngày sau, Minh cầm bộ hồ sơ thứ 2 đến cửa hàng kinh doanh cầm đồ và môi giới kinh doanh bất động sản ở quận Thanh Xuân vay tiền. Ưng vị trí căn hộ, chủ tiệm cầm đồ quyết định mua với giá 6 tỷ đồng. Thủ tục nhận hồ sơ nhà diễn ra tại văn phòng công chứng. Bên mua giao 5,1 tỷ đồng cho vợ chồng Minh làm 3 đợt, thỏa thuận khi giao đợt cuối sẽ làm một số thủ tục còn lại.
Nhà chức trách cáo buộc, cũng trong tháng 3/2010, qua thông tin trên mạng, Minh biết ông Tùng đang tìm mua nhà nên chủ động liên lạc. Vị giám đốc này đưa ông Tùng đến xem căn biệt thự, rao bán với giá 7 tỷ đồng. Thích vị trí căn hộ, ngay trong ngày, hợp đồng mua bán đã được ký với tiền đặt cọc 2,6 tỷ đồng.
Khi đến Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị làm thủ tục sang tên ngôi biệt thự, ba người mua này mới biết họ bị lừa. Năm 2014, Minh bị tuyên án tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức. Sau 5 năm bỏ trốn, cô vợ của anh ta trong ngày 24/6 đã bị TAND tuyên phạt 9 năm tù với vai trò đồng phạm.
Tại TP HCM, tháng 3/2015, một dự án chung cư tại quận Thủ Đức có tình trạng hàng chục căn hộ bị phát hiện bán cùng lúc cho nhiều người. Có những căn được bán cho tận 6 người và có một khách hàng mua 9 căn hộ thì cả 9 đều bị bán trùng. Chính quyền đang vào cuộc sau khi nhận được phản ánh của những người mua nhà.
Cũng tại TP HCM, cư dân chung cư Harmona lâu nay sốt ruột vì nhiều năm dài cổ chờ chủ đầu tư giao sổ đỏ thì mới đây gần 600 hộ dân dự án này như chết đứng khi Ngân hàng TMCP đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Sài Gòn (Ngân hàng BIDV Bắc Sài Gòn) chính thức ra thông báo xiết nợ chủ đầu tư. Lúc này, họ mới hay từ 5 năm về trước chủ đầu tư đã mang toàn bộ nhà của dự án thế chấp ngân hàng.
ba-diem-luu-y-tranh-bi-lua-khi-mua-nha
Cư dân chung cư Harmona bức xúc đòi chủ đầu tư phải làm sổ hồng xong trước 30/6.
Để giảm thiểu rủi ro khi mua bán nhà, luật sư Nguyễn Huy Long (Giám đốc điều hành Công ty Luật Nam Long) khuyến cáo người mua, nhà đầu tư lưu ý những điểm sau:
Thứ nhất, tìm hiểu rõ về tính pháp lý của lô đất, nhà, căn hộ chung cư muốn mua
Hiện nay sở tư pháp các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương đã thiết lập chương trình "Quản lý hợp đồng công chứng và dữ liệu ngăn chặn UCHI" (gọi tắt là UCHI). Chương trình này cho phép các phòng công chứng nhập thông tin và dữ liệu của hợp đồng, giao dịch đối với tài sản phải đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sử dụng sau khi được ký kết.
Do đó, người mua có thể tìm hiểu thông tin về giao dịch công chứng đối với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, quyết định thu hồi, đã bị hủy, đã bị mất… thông qua giao dịch này.
Thứ hai, kiểm tra kỹ thông tin liên quan đến chủ đầu tư 
Theo Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, chủ đầu tư phải công khai những thông tin bắt buộc về dự án trên trang web doanh nghiệp hay sàn giao dịch.
Người mua cần tìm hiểu thật kỹ lưỡng các thông tin liên quan đến chủ đầu tư. Cụ thể như:
- Các thông tin cần thiết về dự án như giấy phép, giấy chứng nhận đầu tư/kinh doanh, quy hoạch/bản đồ/bản vẽ chi tiết… Yêu cầu chủ đầu tư đưa ra các giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án.
Trường hợp là nhà chung cư hay tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó. Xem xét ký việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư với Nhà nước như giấy nộp tiền sử dụng đất và tiền thuế liên quan đến dự án…
- Tìm hiểu kỹ năng lực của chủ đầu tư (thương hiệu, lịch sử, tiềm lực tài chính, …) qua việc triển khai các dự án đã thành công, năng lực của chủ đầu tư (thông qua các dự án đang thi công).
- Những tranh chấp, bất đồng của chủ đầu tư với người mua nhà/cư dân và cách hành xử của chủ đầu tư trước các tranh chấp, bất đồng trong quá trình triển khai dự án trước đó.
Thứ ba, xem xét kỹ hợp đồng mua bán
Hợp đồng mua bán được xem là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên khi tiến hành thủ tục mua bán nhà đất, căn hộ chung cư.
- Trước khi giao kết hợp đồng, người mua phải xem xét kỹ các điều khoản, nhất là các điều về quyền và nghĩa vụ của bên mua và bán, các điều khoản về thanh toán, quy định về thời gian bàn giao căn hộ, thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời hạn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; những chế tài phạt vi phạm được nêu trong hợp đồng…
- Trong các hợp đồng thường ràng buộc rất kỹ nghĩa vụ thanh toán tiền của khách hàng theo tiến độ dự án nhưng nghĩa vụ của chủ đầu tư về bàn giao căn hộ lại rất chung chung. Do đó, người mua cần thỏa thuận cụ thể về thời hạn dự kiến giao nhà, thời điểm giao nhà cụ thể, chế tài nếu vi phạm. Nếu chủ đầu tư không hoàn thành, người dân cần yêu cầu thanh lý hợp đồng.
- Hợp đồng mua bán phải đúng tên mình với chủ đầu tư/người bán.
- Nếu là hợp đồng góp vốn, người dân cần kiểm tra tiến độ thi công dự án, nếu đóng tiền theo từng giai đoạn thì khối lượng xây dựng phải tương ứng
- Thực hiện đúng các quy định về chuyển nhượng đất, hạn chế tối đa những thỏa thuận chuyển nhượng mua bán mà các bên tự ký tay với nhau nếu không cần thiết hoặc không an toàn pháp lý. Ngoài ra cần tìm hiểu thật kỹ về nhân thân của bên bán nếu là giao dịch lần đầu với người đó.

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

Phải bồi thường những gì khi gây tai nạn giao thông?

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Nội dung này được hướng dẫn chi tiết tại khoản 1 Mục 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006, cụ thể như sau:
“1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.
Đối chiếu với các quy định vừa trích dẫn ở trên đối với trường hợp của bạn, ông nội bạn sẽ được bồi thường các khoản thiệt hại sau:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút bao gồm: tiền thuê phương tiện đến bệnh viên; tiền thuốc, tiền viện phí, chi phí chiếu chụp X quang, xét nghiệm, mổ… theo chỉ định của bác sĩ;
- Vì ông bạn bị liệt nửa người không đi lại được và cần người thường xuyên chăm sóc nên tiền bồi thường còn bao gồm cả các chi phí cho người chăm sóc.
- Việc gây thiệt hại ít nhiều có ảnh hưởng đến việc giao tiếp, sinh hoạt của ông bạn, dẫn đến ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm, vì vậy ông bạn có thể được hưởng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.
Ngoài ra, nếu trước khi bị xâm phạm về sức khỏe, ông bạn còn khả năng lao động tạo ra thu nhập thực tế thì còn được bồi thường khoản thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút sau khi sức khỏe bị xâm phạm. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm ông bạn không còn làm việc và không còn tạo ra thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo Điểm b Khoản 1 Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005.

34 tội mới sẽ áp dụng từ ngày 1/7

Hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm, cản trở quyền tiếp cận thông tin hay biểu tình của công dân, đăng ký hộ tịch trái luật... từ ngày 1/7 sẽ bị xử lý theo Bộ luật Hình sự 2015.

Theo điểm c Điều 1 Nghị quyết 109/20015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội quy định về việc thi hành Bộ luật Hình sự 2015, 34 tội danh mới được bổ sung vào bộ luật này.
Điều 147: Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm
Hành vi khiêu dâm trẻ em thể hiện ở các dấu hiệu: lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Chủ thể phạm tội là người từ đủ 18 tuổi trở lên, mức án từ 6 tháng đến 3 năm.
Người phạm tội sẽ phải chịu khung hình phạt mở rộng đến 12 năm nếu có thêm các tình tiết tăng nặng: phạm tội với hai người trở lên, vì mục đích thương mại, tái phạm nguy hiểm... Hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.
Điều 154: Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
Hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác sẽ bị phạt tù 3-7 năm.
Nếu  người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, mức hình phạt có thể tăng tới 15 năm tù: có tổ chức, vì mục đích thương mại, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp, đối với 2-5 người, phạm tội hai lần trở lên...
Mức hình phạt cao nhất là án tù chung thân nếu phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội đối với 6 người trở lên, gây chết người, tái phạm nguy hiểm...
Điều 167: Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân
Người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến 2 năm.
Mức hình phạt cao nhất dành cho tội phạm này là 5 năm khi thỏa mãn các yếu tố như: phạm tội có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 
Hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ tới 5 năm.
Điều 297: Tội cưỡng bức lao động
Người phạm tội này có thể bị phạt đến 3 năm tù, phạt tiền 50-200 triệu đồng nếu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động.
Mức phạt dành cho tội phạm còn mở rộng từ 3 đến 12 năm tù nếu có nhiều tình tiết tăng nặng như: phạm tội có tổ chức, với hai người trở lên, với trẻ em, phụ nữ có thai, người già yếu, khuyết tật, làm chết người…
Người phạm tội có thể bị phạt tiền 30-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.
Điều 215: Tội gian lận bảo hiểm y tế
Những hành vi chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế 10-100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại 20-200 triệu đồng mà không thuộc trường hợp: lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài quy định tại luật này là dấu hiệu của tội gian lận bảo hiểm y tế.
Người phạm tội bị phạt tiền 20-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến 2 năm khi có đủ chứng cứ để cáo buộc thực hiện những hành vi cụ thể sau:
Thứ nhất người phạm tội lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí giường bệnh và các chi phí khác mà thực tế người bệnh không sử dụng.
Thứ hai người giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống, thẻ bảo hiểm y tế giả, thẻ đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa, thẻ bảo hiểm y tế của người khác trong khám chữa bệnh hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định.
Người phạm tội còn có thể bị phạt 1-10 năm tù nếu thực hiện hành vi có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, gây thiệt hại 200-500 triệu đồng hoặc trên 500 triệu, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt…
Hình phạt bổ sung dành cho tội phạm phạt tiền 10-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.
Điều 216: Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
Điều luật này áp dụng với người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Nếu những người này gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc đóng không đầy đủ theo quy định từ sáu tháng trở lên sẽ bị xử lý hình sự.
Cụ thể, nếu nghi can trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 đến dưới 50 lao động với số tiền 50-300 triệu đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trên mà còn vi phạm thì sẽ bị phạt tiền 50-200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
Khung hình phạt của tội này còn mở rộng từ 6 tháng đến 7 năm tù khi có những tình tiết tăng nặng như: phạm tội từ hai lần trở lên, số tiền trốn đóng bảo hiểm từ 300 triệu đến một tỷ đồng trở lên, trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên…
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 20-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.
Đối với pháp nhân thương mại nếu phạm tội này có thể bị phạt tiền lên tới 3 tỷ đồng.
Điều 187: Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại
Sau khi pháp luật cho phép mang thai hộ, Bộ Luật Hình sự 2015 có quy định phòng ngừa, xử lý những người lợi dụng hoạt động này để trục lợi.
Theo đó, người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, bị phạt tiền từ 50- 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến 2 năm.
Người phạm tội với hai người trở lên, hai lần trở lên, tái phạm nguy hiểm hoặc lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để phạm tội sẽ phải đối diện với mức án tù 1-5 năm.
Hình phạt bổ sung dành cho người phạm tội cũng là phạt tiền 10-50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định tới 5 năm.
Điều 336: Tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật
Người có nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện việc đăng ký, cấp giấy tờ về hộ tịch nếu thực hiện công việc trái pháp luật, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.
Mức phạt nặng nhất là 2 năm tù nếu người phạm tội có hành vi đăng ký, cấp giấy tờ về hộ tịch trái pháp luật cho hai người trở lên.

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Yểm bùa, xem bói bị phạt thế nào?

Theo điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, người có hành vi “Lợi dụng hoạt động lên đồng, xem bói, gọi hồn, xin xăm, xóc thẻ, yểm bùa, phù chú, truyền bá sấm trạng và các hình thức tương tự khác để trục lợi” sẽ bị phạt tiền từ tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với những người tổ chức mà không áp dụng đổi với những người tham gia. Vì vậy, nếu vợ bạn cùng một số người đứng ra tổ chức lên đồng, xem bói, gọi hồn… mới bị coi là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nói trên.
Các hành vi của ông thầy cúng có thể bị xử phạt như sau:
Xử phạt hành chính: Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi “Lợi dụng hoạt động lên đồng, xem bói, gọi hồn, xin xăm, xóc thẻ, yểm bùa, phù chú, truyền bá sấm trạng và các hình thức tương tự khác để trục lợi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 158/2013/NĐ-CP. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 15 nói trên.
Xử phạt hình sự: Ông thầy cúng cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội hành nghề mê tín, dị đoan” theo quy định tại Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) - hiện đang có hiệu lực thi hành. Theo đó:
- Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
- Phạm tội làm chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng.