Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Các mức phạt với xe máy - ôtô khi chạy quá tốc độ

Theo khoản 11 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định là hành vi bị nghiêm cấm.
Theo Điều 5, Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, mức xử phạt vi phạm hành chính đối với ôtô và xe máy do vượt quá tốc độ cho phép được quy định như sau:
Hành vi điều khiển xe quá tốc độMức phạt với ôtôMức phạt với xe máy
Quá tốc độ quy định từ 5 km/h đến dưới 10 km/hTừ 600.000 đến 800.000 đồngTừ 100.000 đến 200.000 đồng.
Quá tốc độ từ 10 km/h đến 20 km/hTừ 2.000.000 đến 3.000.000 đồngTừ 500.000 đến 1.000.000 đồng
Từ trên 20 km/hQuá tốc độ từ 20 km/h đến 35 km/hTừ 5.000.000 đến 6.000.000 đồngTừ 3.000.000 đến 4.000.000 đồng
Quá tốc độ trên 35 km/hTừ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng
Với các quy định trên, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP không quy định mức phạt tiền đối với hành vi điều khiển xe vượt quá tốc độ dưới 5km/h. Do đó, nếu điều khiển xe máy vượt quá tốc độ 2km/h mà bị xử phạt 200.000 đồng là không đúng.
Theo khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt. Nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.
Tuy vậy, nếu trên tuyến đường có biển báo hiệu về hạn chế tốc độ tối đa mà người điều khiển xe vượt quá tốc độ quy định dưới 5km/h thì có thể bị xử phạt về hành vi không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu. Mức phạt lỗi này với tài xế là từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng, với tài xế ôtô là 100.000 đồng đến 200.000 đồng (Điều 5.1.a Nghị định 46/2016/NĐ-CP).

Cách nhận diện 'yêu râu xanh' ẩn mình

Người khó có khả năng thỏa mãn nhu cầu tình dục sẽ dễ nảy sinh hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

Không chỉ ở Việt Nam, tội phạm xâm hại trẻ em trên thế giới đều thuộc một trong hai loại: người bị bệnh lý về tình dục và người bình thường.
Những người bị bệnh lý về tình dục (lệch lạc hành vi tình dục), họ có những nhu cầu, sở thích, hành vi tình dục khác nhau. Có người bị bệnh phô dâm, thị dâm, ác dâm, ấu dâm, lão dâm… hoặc nhiều hành vi lệch lạc khác.
Những người có hành vi tình dục bình thường nhưng do điều kiện công việc, sinh hoạt, cuộc sống hôn nhân có những khiếm khuyết trong việc thỏa mãn nhu cầu tình dục lại là những "yêu râu xanh" khó đề phòng nhất. Chẳng hạn những người độc thân, chưa có bạn gái hay vợ, bạn gái ở xa... Họ liều lĩnh thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em bởi nghĩ rằng nhận thức của trẻ em còn hạn chế nên rất dễ dụ dỗ và che giấu.
Nhiều người còn nghĩ hành vi xâm hại nghiêm trọng thường để lại dấu vết nhưng với hành vi dâm ô như ôm bế, sờ mó, động chạm vào vùng nhạy cảm… thì không. Vì thế khi bị công an bắt, họ thường chối tội đến cùng.
Một số giải pháp phòng chống xâm hại tình dục trẻ em ở khu trọ
- Cha mẹ, nhà trường cần trang bị cho trẻ các kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cơ bản, quan tâm quản lý, theo dõi, giám sát con khi sinh hoạt, vui chơi ở khu nhà trọ.
- Chính quyền địa phương khi phê duyệt giấy phép xây dựng cần phải tính toán bảo đảm khu vực vui chơi, giải trí ở các khu nhà trọ cho trẻ em. Cần bắt buộc đưa nội dung phòng chống xâm hại tình dục trẻ em vào nội quy của khu phòng trọ.
- Người dân ở khu phòng trọ cần quan tâm phát hiện, lên án, tố cáo hành vi xâm hại tình dục của kẻ xâm hại ở khu nhà trọ, kịp thời báo với các cơ quan chức năng để xử lý nghiêm hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
- Chủ nhà trọ cần phải có trách nhiệm quản lý chặt chẽ khách ở trọ, tạo điều kiện, không gian vui chơi cho trẻ. Nếu có điều kiện nên trang bị camera an ninh ở khu nhà trọ, nghiên cứu xây dựng nội quy khu nhà trọ trong đó có nội dung ứng xử, giao tiếp với trẻ em ở khu nhà trọ.