Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Gây thương tích cho người nghi ăn trộm sẽ bị xử lý thế nào?

Theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự, hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên thì là phòng vệ chính đáng. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Đối với sự việc bạn nêu, giả sử kẻ trộm chó đã và đang bỏ chạy thì hành động phạm tội đã chấm dứt. Do vậy, việc ném gạch nhằm gây thương tích (dù chỉ để nhằm bắt giữ) không còn là phòng vệ chính đáng. Tùy theo mức độ hậu quả mà người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc người bỏ chạy có phải là kẻ trộm hay không không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự với người có hành vi tấn công.
Về mức độ thương tật, theo quy định tại Điều 104 (Bộ luật Hình sự), người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản này (gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; đối với trẻ em; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm…) thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm…
Để có căn cứ xác định mức độ tổn hại sức khỏe, cơ quan điều tra sẽ đề nghị cơ quan chuyên môn giám định để xác định tỷ lệ thương tật của người bị hại.
Ngoài trách nhiệm hình sự, người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm dân sự là bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
Theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi của mình gây ra, bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
Ngoài ra, người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.  
Trường hợp em bạn gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự thì em của bạn vẫn phải bồi thường thiệt hại như đã viễn dẫn đối với người bị hại.

Quyền hạn mới được bổ sung của cảnh sát cơ động?

Theo Khoản 2 Điều 9 Nghị định 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 quy định về nhiệm vụ của cảnh sát giao thông đường bộ, các lực lượng cảnh sát khác và công an xã khi phối hợp tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cảnh sát cơ động có các nhiệm vụ như sau:
“a) Thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo sự chỉ đạo, điều hành của cảnh sát giao thông đường bộ và theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền khi tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng;
c) Thống kê, báo cáo các vụ, việc vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ; kết quả công tác tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo sự phân công trong Kế hoạch đã được phê duyệt”.
Theo khoản 4 Điều 68 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, cảnh sát trật tự, cảnh sát phản ứng nhanh, cảnh sát cơ động, cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm sau:
- Đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy mà không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định.
- Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư.
- Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m.
- Tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ.
- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc kiểm soát giao thông.
- Điều khiển xe trong tình trạng say xỉn.
- Điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ.
- Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh…
Quá trình tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng thì lực lượng cảnh sát cơ động có quyền xử phạt hành chính đối với một số lỗi vi phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
Kể từ ngày 20/12/2015 khi Thông tư số 58/2015/TT-BCA ngày 03/11/2015 của Bộ Công an quy định về việc tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội của lực lượng cảnh sát cơ động chính thức có hiệu lực, những nội dung về nguyên tắc của hoạt động tuần tra, nhiệm vụ, thẩm quyền xử phạt hành chính,… của lực lượng cảnh sát cơ động sẽ được điều chỉnh bởi Thông tư này.
Thông tư mới bổ sung thêm các quy định về quyền hạn của cảnh sát cơ độngtheo đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát các chiến sĩ cảnh sát cơ động sẽ có các quyền hạn sau:
“1. Kiểm soát người, phương tiện, đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát.
2. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo thẩm quyền.
3. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.
4. Yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết vụ, việc liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
5. Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật, động vật nghiệp vụ phục vụ hoạt động tuần tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.
6. Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an”.

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

Ai được quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”.
Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ như sau: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.
Theo các quy định vừa trích dẫn ở trên mặc dù hai bạn đã chung sống như vợ chồng từ năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn nên pháp luật vẫn không công nhận là vợ chồng. Do đó, con được sinh ra khi hai bạn chưa có Giấy chứng nhận kết hôn không được xác định là con chung. Nếu bạn trai của bạn có chứng cứ chứng minh được mình là cha của con bạn thì mới có quyền giành quyền nuôi con với bạn.
Nếu bạn trai bạn đã thực hiện các thủ tục thừa nhận con thì quyền nuôi con được quy định như sau: Theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
Theo đó, hai người sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Như vậy, nếu bạn trai bạn đã làm thủ tục nhận con theo quy định của pháp luật, nhưng hai bạn không thỏa thuận được ai sẽ là người nuôi con sau khi chấm dứt việc chung sống, tòa án sẽ quyết định dựa trên quyền lợi của con. Do đó, khi việc tranh chấp quyền nuôi con của hai bạn được giải quyết ở tòa án, để có nhiều cơ hội giành quyền nuôi con hơn thì bạn cần đưa ra các chứng cứ chứng minh cho việc cháu bé ở với bạn sẽ tốt hơn khi ở với cha cháu (ví dụ như: tình cảm dành cho con, điều kiện vật chất, công việc, thu nhập, chỗ ở… của bạn).

Giai đoạn ly thân chia tài sản thế nào

Hiện chưa có văn bản pháp luật nào quy định về vấn đề ly thân, do đó thời gian ly thân vẫn được xác định là trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.
Về trường hợp của vợ chồng bạn, dù đã ly thân từ năm 2013 nhưng chưa làm thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại. Việc chia tài sản sẽ thực hiện theo thủ tục chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
- Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp:
+ Việc chia tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
+ Việc chia tài nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây: (1) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; (2) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; (3) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; (4) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; (5) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; (6) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp không được phép chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo quy định của pháp luật, vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận về việc chia tài sản. Nội dung của văn bản thỏa thuận bao gồm các thông tin cơ bản như: tên, tuổi, nơi ở của 2 vợ chồng, tài sản được chia, thỏa thuận chia, quyền và nghĩa vụ của các bên, thời điểm việc chia tài sản có hiệu lực, các thỏa thuận khác và phải có chữ ký của hai vợ chồng…Việc chia tài sản phải lập thành văn bản phải được công chứng theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung, bạn có thể làm đơn yêu cầu phân chia tài sản chung gửi đến tòa án cấp huyện nơi vợ chồng đang cư trú để giải quyết việc phân chia tài sản theo đúng quy định pháp luật.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Sao vợ chồng phải cùng đứng tên trong sổ đỏ?

Tôi chỉ muốn vợ đứng tên trong sổ đỏ của mảnh đất vừa mua nhưng cán bộ công chứng nói tôi phải viết cam kết tiền mua là của riêng vợ. Nếu là tiền chung thì tôi phải cùng đứng tên.
Vợ chồng tôi mới mua một mảnh đất. Do thường ở xa nhà, để tiện giao dịch, tôi muốn một mình vợ tôi đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chuyển nhượng.
Tuy nhiên khi làm hợp đồng chuyển nhượng, cán bộ công chứng nói là không được. Họ cho hay nếu muốn một mình vợ tôi đứng tên, tôi phải viết giấy cam kết tiền mua là tiền riêng của cô ấy. Nếu là tiền chung của vợ chồng thì tôi cũng phải đứng tên.
Xin cho biết cán bộ công chứng trả lời thế có đúng không? Cùng là tài sản cá nhân nhưng sao ôtô, xe máy chỉ một người đứng tên cũng được?

Sang tên đổi chủ xe máy, ôtô theo thủ tục mới

Đăng ký sang tên phương tiện trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo quy định mới cần những thủ tục gì?
Theo Quyết định về lĩnh vực đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang ký ban hành, có hiệu từ 16/6, cá nhân, tổ chức khi đăng ký sang tên đổi chủ phương tiện trong cùng tỉnh sẽ phải làm theo thủ tục sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ theo quy định.
Bước 2: Nộp hồ sơ đề nghị đăng ký sang tên xe tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trụ sở Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc các điểm đăng ký xe của Phòng.
- Cán bộ tiếp nhận
+ Kiểm tra giấy tờ của chủ xe.
+ Kiểm tra đối chiếu bản cà số máy, số khung dán trong Giấy khai đăng ký xe với thực tế xe.
+ Kiểm tra hồ sơ đăng ký xe và cấp biển số xe.
Nếu hồ sơ đăng ký xe chưa đầy đủ theo quy định thì hướng dẫn cho chủ xe hoàn thiện hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ đăng ký xe đầy đủ theo quy định: Cấp giấy hẹn cho chủ xe; Thu lệ phí đăng ký xe; Trả biển số xe; Hướng dẫn chủ xe kẻ biển số, tải trọng, tự trọng, tên chủ xe đối với các loại xe ô tô theo quy định.
Bước 3: Thu giấy hẹn, trả giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ xe.
b) Cách thức thực hiện:
Trực tiếp tại trụ sở Trụ sở Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc các điểm đăng ký xe của Phòng.
Thời gian: Từ thứ 2 đến thứ 7 (theo quy định của Thủ tướng Chính phủ).
c) Thành phần, số lượng hồ sơ:
- Thành phần hồ sơ:
+ Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu).
+ Chứng từ lệ phí trước bạ.
+ Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe.
+ Giấy tờ của chủ xe.
- Số lượng hồ sơ: 1 bộ.
d) Thời hạn giải quyết:
Cấp ngay biển số sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe hợp lệ; Giấy chứng nhận đăng ký xe thì thời hạn hoàn thành thủ tục không quá 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
đ) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính:
Xe đã được đăng ký tại Phòng Cảnh sát giao thông, nay sang tên cho chủ xe tại tỉnh đó.
e) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:
Phòng Cảnh sát giao thông.
g) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:
Cấp biển số xe (trường hợp biển 3, 4 số đổi sang biển 5 số), giấy chứng nhận đăng ký xe
h) Lệ phí:
Thu theo Thông tư 127/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Theo Cục Cảnh sát giao thông

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Bé 3 tuổi bị gãy tay, nhà trường chịu trách nhiệm gì?

Con trai 3 tuổi của tôi trong lớp học bị các bạn đẩy ngã gãy tay. Xin hỏi trách nhiệm của nhà trường trong việc này? Ai phải bồi thường?
Tôi có bé trai 3 tuổi đang học tại một trường công lập ở TP HCM. Tháng 3 vừa qua, cháu đi học bị các bạn đẩy ngã gãy tay trong lớp. Hiện, gia đình đã chữa trị cho cháu khỏi.
Xin có 2 câu cần tư vấn như sau:
1. Cháu bị gãy tay ngay trong lớp học, trách nhiệm của nhà trường thế nào khi để xảy ra sự việc?
2. Thời điểm cháu tai nạn, thẻ bảo hiểm y tế bị mất, thời gian làm lại quá lâu nên gia đình đã chữa trị cho cháu 100% bằng dịch vụ. Xin hỏi số tiền này cơ quan bảo hiểm có chi trả hay không? 
Chân thành cảm ơn!

Căn cứ xác định mua bán dâm?

Nếu hai người khác giới ở trong phòng, căn cứ gì để công an khi kiểm tra xác định họ có mua bán dâm hay không?
Huy Khánh
Trả lời:
Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003: “1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác. 2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu”.
Theo đó, để xác định hai người khác giới ở trong phòng có phải để mua bán dâm hay không, cơ quan chức năng sẽ phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết. Một trong số đó là dựa trên các yếu tố như thông tin cá nhân người bị kiểm tra, hiện trường, mục đích của việc ở chung phòng của hai người này... Ví dụ: Nhân thân của người phụ nữ đã có tiền sự về hành vi bán dâm chưa? Trong phòng có dấu vết, vật chứng của việc quan hệ tình dục không? Đặc biệt là thông tin về nhân thân do hai người cung cấp về nhau có khớp không?...
Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy định tại Điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 (có thể bị phạt tiền đến 5.000.000 đồng). Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Mua dâm người chưa thành niên theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự (có thể bị phạt tù đến 15 năm tù) hoặc tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự (có thể bị phạt tù đến 7 năm tù).
Người bán dâm, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy định tại Điều 23 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 (có thể bị phạt tiền đến 500.000 đồng), bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Người bán dâm là người nước ngoài thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất. Người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Đòi thế nào khi cho vay tiền không lập hợp đồng công chứng?

Người vay tiền thách tôi đi kiện vì cho rằng hai bên không lập hợp đồng có công chứng nên không có giá trị.
Tôi cho bạn mượn món tiền lớn để kinh doanh, viết giấy biên nhận và người vay cam kết trả đủ trong vòng 2 tháng.
Nay quá thời hạn một tháng, tôi yêu cầu trả tiền thì người kia nói giấy vay nợ kia không công chứng nên không có giá trị, thách "cứ đi kiện". Và cho dù tôi có kiện thì anh ta cũng không có tài sản để trả, mọi việc chỉ thêm rắc rối vì sẽ ảnh hưởng đến cơ quan nơi tôi làm việc (thuộc lực lượng vũ trang).
Tôi phải làm sao?

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Khi nào công an kiểm tra khách thuê phòng nhà nghỉ?

Tôi muốn biết căn cứ gì công an kiểm tra hành chính phòng của khách thuê nhà nghỉ? Quyền của khách được pháp luật quy định như thế nào?
Thúy Hằng  
Trả lời:
Điều 22 Hiến pháp 2013 và Điều 46 Bộ luật Dân sự 2005 đều quy định về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của cá nhân, việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý. Trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người. Việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 5/10/2010 của Chính phủ quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, cơ quan công an có thẩm quyền trong quá trình quản lý phải thực hiện “kiểm tra người và phương tiện tại địa điểm kinh doanh liên quan đến hoạt động của cơ sở khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật”. Theo đó, khi xét thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan công an có thẩm quyền có quyền kiểm tra hành chính người và phương tiện tại địa điểm kinh doanh liên quan đến hoạt động của cơ sở.
Như vậy, cơ quan công an có thẩm quyền có quyền kiểm tra khách thuê phòng khi xét thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động cho thuê lưu trú của nhà nghỉ, khách sạn.
Quyền của khách thuê phòng
Điều 46 Hiến pháp quy định: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật...”. Theo đó, khách thuê phòng có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan công an có thẩm quyền khi bị khám xét.
Việc khám xét người và khám xét chỗ ở được thực hiện theo quy định tại Điều 127 và 129 Luật xử lý vi phạm hành chính. Người bị khám xét có quyền khiếu nại hành vi hành chính của cơ quan khám xét nếu việc khám xét không đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục khám xét.
Trường hợp khách thuê phòng bất hợp tác hoặc có hành vi chống đối cơ quan công an có thẩm quyền khám xét thì tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi chống đối có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội..., người có hành vi “dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ” có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng. Căn cứ điều 257 Bộ luật Hình sự, “người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ ...” có thể bị phạt tù đến 7 năm.

Cách tính án phí khi chia tài sản ly hôn?

Tôi muốn ly hôn. Xin hỏi, án phí vợ chồng tôi phải nộp là bao nhiêu? Trường hợp có tranh chấp tài sản, ai phải nộp?
Nguyễn Thị Hương
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”.
Theo đó, nếu bạn khởi kiện ly hôn chồng, bạn sẽ phải nộp án phí sơ thẩm. Mức án phí dân sự sơ thẩm bạn phải nộp là 200.000 đồng.
Trong trường hợp có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng bạn còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản được chia.
Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch như sau:
Giá trị tài sản có tranh chấpMức án phí
a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống200.000 đồng
b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng5% giá trị tài sản có tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng
Ví dụ. Vợ chồng bạn tranh chấp ngôi nhà có giá trị 500.000.000 đồng. Tòa án quyết định mỗi người được hưởng 1/2 giá trị ngôi nhà, thì mức án phí vợ/chồng bạn phải nộp là: 5% x 250.000.000 = 12.500.000 đồng.

Có được điều khiển ôtô khi bị mất bằng lái?

Tôi bị kẻ gian lấy mất bằng lái xe ôtô, khi làm thủ tục cấp lại được hẹn sau 60 ngày mới có bằng. Trong thời gian này, tôi có được điều khiển xe không? Bị phạt bao nhiêu tiền nếu lái xe mà không có bằng?
Duy Hiền
Điều 58 Luật giao thông đường bộ quy định: "Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ... và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp... Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau: ... b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới...”.
Theo đó, giấy phép lái xe là một trong các loại giấy tờ bắt buộc người lái xe phải mang theo khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông.
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, “người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy phép lái xe” sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đến 400.000 đồng
Điểm b khoản 7 Điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP cũng quy định phạt tiền từ 4.000.000 đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe ôtô “không có Giấy phép lái xe”
Theo những quy định vừa viện dẫn, cả người “không mang theo Giấy phép lái xe” và người “không có giấy phép lái xe” đều bị xử phạt hành chính.  Nếu bạn không có giấy phép lái xe xuất trình vào thời điểm bị kiểm tra là bạn đã vi phạm và bị xử phạt hành chính rồi; giấy hẹn ngày đến lấy bằng mới của bạn chỉ có giá trị chứng minh bạn không thuộc trường hợp “không có Giấy phép lái xe” để bị xử phạt với mức phạt cao chứ không có giá trị thay thế giấy phép lái xe bị mất
Hiện nay, pháp luật chỉ quy định về trường hợp được phép điều khiển phương tiện khi không có giấy phép lái xe là trong trường hợp giấy phép này bị tạm giữ. Khoản 2, Điều 75 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định: Cảnh sát giao thông có quyền tạm giữ phương tiện, giấy tờ liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt hoặc xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt. Khi bị tạm giữ giấy tờ, nếu quá thời hạn hẹn ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến để giải quyết mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.
Theo quy định này, nếu không mất quyền sử dụng giấy phép lái xe trong thời gian chờ giải quyết vi phạm thì giấy hẹn có giá trị thay thế những giấy tờ bị tạm giữ, người không có giấy phép lái xe vẫn được điều khiển phương tiện trong thời gian chờ xử phạt. Nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết nhưng không đến giải quyết mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông thì mới bị xử phạt như trường hợp không có giấy tờ..
Với trường hợp bạn hỏi, mặc dù bạn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe nhưng giấy phép lái xe của bạn đã bị mất, đang trong thời gian chờ cấp lại nên bạn không được phép điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Giấy hẹn ngày đến lấy giấy phép lái xe mới của bạn không có giá trị thay thế giấy phép lái xe bị mất

Mẹ kế có được nhận con riêng của chồng làm con nuôi?

Tôi và con gái riêng của chồng thân thiết như ruột thịt. Hiện, tôi muốn ly hôn và nhận cháu làm con nuôi để hai mẹ con có điều kiện chăm sóc nhau. Ý nguyện này có thực hiện được không?
Lê Thanh Loan
Trả lời
Khoản 1, khoản 2 Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định: Người được nhận làm con nuôi gồm các trường hợp sau:
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được nhận làm con nuôi nếu được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
Bạn đang là mẹ kế của con gái riêng chồng bạn, nếu muốn nhận con nuôi thì cháu phải dưới 18 tuổi. Trường hợp bạn với chồng đã thực hiện xong thủ tục ly hôn rồi mới nhận cháu làm con nuôi thì đứa trẻ phải dưới 16 tuổi. Nếu con riêng của chồng bạn đã 18 tuổi trở lên thì trong mọi trường hợp không đủ điều kiện về tuổi để được nhận làm con nuôi.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010, một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Do đó, con gái riêng của chồng bạn ngoài việc phải đáp ứng về độ tuổi còn phải "không là con nuôi của người khác" thì mới thuộc trường hợp được nhận làm con nuôi.
Đối với người nhận con nuôi, khoản 1 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.
- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.
- Có tư cách đạo đức tốt.
Như vậy, ngoài điều kiện của người được nhận nuôi (con riêng của chồng bạn), bạn còn phải có đủ các điều kiện của người nhận con nuôi nêu trên. Lưu ý, những quy định này được áp dụng trong trường hợp bạn đã ly hôn. Trường hợp bạn chưa ly hôn mà muốn nhận con riêng của chồng bạn làm con nuôi thì ngoài điều kiện của người được nhận nuôi ra chỉ cần đáp ứng “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” và “có tư cách đạo đức tốt của người nhận nuôi” là đủ, theo khoản 3 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010.
Đối chiếu với các quy định nêu trên, bạn có thể thực hiện được nguyện vọng của mình nếu đủ điều kiện về người nhận nuôi và con gái riêng của chồng bạn đủ điều kiện của người được nhận nuôi.
Do hiện nay bạn chưa ly hôn nên cần xem xét việc nên nhận con riêng của chồng làm con nuôi trước hay sau khi ly hôn để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình.

Đòi bồi thường khi bị chó nhà hàng xóm cắn?

Tôi phải điều trị nhiều ngày tại bệnh viện do bị chó nhà hàng xóm cắn. Tôi muốn yêu cầu gia đình này bồi thường thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần thì phải làm thế nào?
Tôi có thể kiện gia đình đó ra tòa không?
Hà Nam
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 623 Bộ Luật Dân sự, chó dữ được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ. Điều luật này nêu rõ: “1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác...”.
Theo quy định nói trên, chủ sở hữu chó dữ có trách nhiệm xích, nhốt chó cẩn thận và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chó dữ gây ra cho bạn.
Về thiệt hại được bồi thường:
Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự, bạn có thể yêu cầu gia đình hàng xóm bồi thường các thiệt hại sau:
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bao gồm:
+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút.
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bạn.
- Tổn thất về tinh thần: Mức bồi thường tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Trường hợp hai gia đình không tự thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường thì theo quy định tại khoản 6 Điều 25, khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, bạn có thể khởi kiện gia đình hàng xóm đến tòa án cấp huyện nơi cư trú để được giải quyết.

Mở cửa ôtô gây chết người phải chịu trách nhiệm gì?

Vợ tôi đang đi xe máy trên đường thì bất ngờ một chiếc taxi mở cửa. Do khoảng cách quá gần, cô ấy tông vào cánh cửa rồi ngã ra đường. Chiếc xe tải đi sau không kịp phanh đã khiến cô ấy tử vong. Trong trường hợp này, người mở cửa taxi có bị coi là phạm tội không?
Ai trong trường hợp này sẽ đền bù tổn thất vật chất và tinh thần gia đình tôi? Chúng tôi có hai con nhỏ mới 10 tuổi.
Vũ Hải
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ, người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe phải thực hiện quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết.
b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình.
c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó.
d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết.
đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn.
e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái.
g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.
Như vậy việc lái xe taxi bất ngờ mở cửa là hành vi không bảo đảm an toàn về giao thông đường bộ khi dừng đỗ. Cái chết của vợ bạn là do tài xế xe tải trực tiếp gây ra. Hành vi mở cửa của lái xe taxi là điều kiện thúc đẩy hậu quả khiến vợ bạn tử vong.
Để có kết luận chính xác trách nhiệm của các lái xe đến đâu cần phải điều tra hoàn cảnh, không gian, điều kiện lúc vợ bạn bị văng ra va vào xe tải? Khoảng cách mà vợ bạn bị văng từ taxi đến đầu xe tải là bao xa? Lái xe tải có đủ điều kiện để tránh, phanh kịp khi gặp sự cố này hay không? Nếu kết luận điều tra cho thấy việc vợ bạn văng vào xe tải là quá gần và lái xe tải không thể xử lý kịp dẫn đến cái chết của vợ bạn thì hành vi của lái xe tải được coi là sự kiện bất ngờ quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự.
Theo điều luật này, người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp đó, lái xe tải sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Cả tài xế xe tải và taxi đều đang chiếm hữu, sử dụng ôtô - là “nguồn nguy hiểm cao độ”, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2005. Vì thế, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật và phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Như vậy, trong trường hợp lái xe tải không phải chịu trách nhiệm hình sự thì trách nhiệm dân sự sẽ do lái xe tải và lái xe taxi cùng liên đới chịu trách nhiệm.
Nếu lúc vợ bạn bị văng mà lái xe tải có đủ khoảng cách an toàn và điều kiện để làm chủ tốc độ nhưng vẫn không làm chủ được tốc độ, để hậu quả xảy ra thì tài xế này là người phải chịu trách nhiệm trực tiếp về cái chết của nạn nhân.
Ngoài trách nhiệm hình sự theo Điều 202 Bộ luật Hình sự, lái xe tải còn phải chịu trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân. Lái xe taxi cũng sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cùng lái xe tải.

Cho hàng xóm vay tiền tính lãi thế nào là phù hợp

Tôi cho người hàng xóm vay 20 triệu đồng trong thời hạn 3 tháng. Tôi muốn tính lãi, nhưng không rõ nên tính lãi bao nhiêu một tháng là hợp lý? Lãi suất bao nhiêu một tháng thì bị coi là cho vay nặng lãi?
Nguyễn Sơn Hải
Trả lời:
Việc bạn cho người hàng xóm vay số tiền 20 triệu đồng trong thời hạn 3 tháng đã làm phát sinh giữa bên cho vay và bên vay một hợp đồng vay tài sản. Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 thì: Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, sau khi hết thời hạn 3 tháng người hàng xóm phải trả cho bạn số tiền là 20 triệu đồng tiền gốc. Nếu bạn và người hàng xóm có thỏa thuận về lãi suất, người hàng xóm phải trả tiền lãi cho bạn theo thỏa thuận giữa hai bên tính trên số tiền gốc cho vay và thời gian 3 tháng tương ứng.
Về lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 thì: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.
Từ quy định này có thể thấy việc cho vay giữa cá nhân với cá nhân - nếu áp dụng mức lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tại thời điểm cho vay - thì không bị coi là trái pháp luật. Ví dụ: Tại thời điểm cho vay, lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước là 6,7%/năm tương đương với khoảng 0,56%/tháng đối với khoản vay ngắn hạn dưới 12 tháng. Với khoản vay 20 triệu, bạn có thể tính mức lãi suất là 0,56%/ tháng x 3 tháng hoặc cao hơn mức 0,56%/ tháng nhưng không được vượt quá 150% mức lãi suất 0,56%/ tháng. Nếu áp dụng mức lãi suất cao hơn mức lãi suất này là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi cho vay nặng lãi được quy định cụ thể tại Điều 163 Bộ luật hình sự hiện hành. Theo điều luật này thì: “Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm; Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm; Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.
Trong trường hợp của cho vay có tính lãi, nếu người cho vay tính lãi cao từ 10 lần trở lên, có tính chất chuyên bóc lột (sống bằng nghề cho vay nặng lãi) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp cho vay 20 triệu ở ví dụ trên, nếu người cho vay áp dụng mức lãi suất cao gấp 10 lần mức 0,56%/tháng và có tính chất chuyên bóc lột thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi.

Phân biệt án dân sự, án hình sự?

Tôi cho một người bạn vay 500 triệu đồng. Quá hạn đã lâu, tôi đòi nhiều lần nhưng cậu ta không trả. Xin hỏi, tôi có thể khởi kiện không? Việc này sẽ xử lý dân sự hay hình sự?
Hoàng Thị Hòa
Trả lời:
Bạn cho vay tiền nên giữa hai người hình thành quan hệ dân sự trên cơ sở hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự. Theo khoản 1 của điều này: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”.
Trong trường hợp đến hạn, người vay không trả tức là đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự, bạn có quyền khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền để yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Việc bạn thực hiện quyền khởi kiện người vay đến tòa án được gọi là khởi kiện dân sự. Vụ án tranh chấp hợp đồng vay giữa bạn và người vay là vụ án dân sự.
Giả sử, đến thời hạn trả nợ, người vay bỏ trốn để không phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bạn. Hành vi này sẽ được cho là có dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp này, bạn có thể tố cáo hành vi của người vay đến cơ quan công an có thẩm quyền để được giải quyết.
Việc bạn tố cáo hành vi của người vay để giải quyết theo quy định của pháp luật hình sự được gọi là vụ án hình sự.

Điều kiện kinh doanh karaoke?

Tôi muốn mở địa điểm kinh doanh karaoke nhưng nghe nói rất khó khăn, không biết điều kiện và thủ tục để đăng ký hoạt động dịch vụ này thế nào?
Hồng Tuyết
Trả lời:
Điều kiện kinh doanh karaoke và trách nhiệm của chủ cơ sở kinh doanh karaoke được quy định cụ thể tại Điều 30 và Điều 32 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ, Điều 12 Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2009.
Điều kiện kinh doanh:
“1. Phòng karaoke phải có diện tích sử dụng từ 20m2 trở lên, không kể công trình phụ, đảm bảo điều kiện về cách âm, phòng, chống cháy nổ.
2. Cửa phòng karaoke phải là cửa kính không màu, bên ngoài nhìn thấy toàn bộ phòng.
3. Không được đặt khóa, chốt cửa bên trong hoặc đặt thiết bị báo động để đối phó với hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4. Địa điểm hoạt động karaoke phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa, cơ quan hành chính nhà nước từ 200m trở lên.
5. Địa điểm hoạt động karaoke trong khu dân cư phải được sự đồng ý bằng văn bản của các hộ liền kề.
6. Phù hợp với quy hoạch về karaoke được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”.
Trách nhiệm của chủ cơ sở kinh doanh karaoke cũng được quy định cụ thể tại Điều 32 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 6/11/2009 nêu trên. Theo đó, khi hoạt động kinh doanh karaoke, chủ cơ sở kinh doanh phải tuân theo các quy định sau đây:
1. Đảm bảo ánh sáng trong phòng trên 10 Lux tương đương 1 bóng đèn sợi đốt 40W cho 20m2.
2. Đảm bảo âm thanh vang ra ngoài phòng karaoke không vượt quá quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép.
3. Chỉ được sử dụng bài hát đã được phép phổ biến; băng, đĩa đã dán nhãn kiểm soát theo quy định.
4. Không được bán rượu hoặc để cho khách uống rượu trong phòng karaoke.
5. Đảm bảo các điều kiện về an ninh, trật tự quy định tại Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 3/9/2009 của Chính phủ.
6. Mỗi phòng karaoke chỉ được sử dụng một nhân viên phục vụ từ 18 tuổi trở lên; nếu nhân viên phục vụ là người làm thuê thì phải có hợp đồng lao động và được quản lý theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động.
7. Không được hoạt động sau 12h đêm đến 8h sáng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 Quy chế này;
8. Các điểm karaoke hoạt động ở vùng dân cư không tập trung không phải thực hiện quy định về âm thanh tại khoản 2 nhưng phải thực hiện quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này.
Trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; về địa điểm kinh doanh, phòng hát, âm thanh, áng sáng, tiếng ồn và có cam kết về trật tự an ninh và được sự đồng ý bằng văn bản của các hộ dân liền kề, người đề nghị đăng ký kinh doanh cơ sở karaoke gửi hồ sơ để xin giấy phép kinh doanh lên Sở Văn hóa, thể thao và du lịch hoặc cơ quan cấp huyện được phân công cấp giấy phép đăng ký kinh doanh.
Hồ sơ và thủ tục cấp giấy phép
a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép kinh doanh karaoke trong đó ghi rõ địa điểm kinh doanh, số phòng, diện tích từng phòng.
- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có giá trị pháp lý.
- Ý kiến bằng văn bản của các hộ liền kề.
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan cấp huyện được phân cấp có trách nhiệm cấp giấy phép kinh doanh; trường hợp không cấp giấy phép phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do

Muốn nghỉ việc song công ty không đồng ý

Vợ tôi sau 10 năm làm việc đã xin nghỉ song không được cơ quan chấp nhận với lý do không có nhân sự thay thế. Xin hỏi, vợ tôi có được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không? Quyền lợi của cô ấy trong trường hợp này như thế nào?
Trần Tuấn
Trả lời
Theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động: “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày...”. Theo đó, vợ bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải bảo đảm thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 45 ngày.
Sau thời gian đó, kể từ ngày vợ bạn nộp đơn thôi việc, hợp đồng lao động giữa vợ bạn và công ty đương nhiên chấm dứt theo quy định tại khoản 9 Điều 36 Bộ luật Lao động.
Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật thì quyền lợi của vợ bạn được hưởng như sau:
- Trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động. Theo đó, công ty có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho vợ bạn, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi vợ bạn thôi việc.
- Công ty có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác  đã giữ lại của vợ bạn.
Ngược lại, nếu chấm dứt hợp đồng lao động trái với quy định nêu trên, theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động, vợ bạn "không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động".
Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.