Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Gây thương tích cho người nghi ăn trộm sẽ bị xử lý thế nào?

Theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự, hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên thì là phòng vệ chính đáng. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Đối với sự việc bạn nêu, giả sử kẻ trộm chó đã và đang bỏ chạy thì hành động phạm tội đã chấm dứt. Do vậy, việc ném gạch nhằm gây thương tích (dù chỉ để nhằm bắt giữ) không còn là phòng vệ chính đáng. Tùy theo mức độ hậu quả mà người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc người bỏ chạy có phải là kẻ trộm hay không không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự với người có hành vi tấn công.
Về mức độ thương tật, theo quy định tại Điều 104 (Bộ luật Hình sự), người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản này (gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; đối với trẻ em; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm…) thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm…
Để có căn cứ xác định mức độ tổn hại sức khỏe, cơ quan điều tra sẽ đề nghị cơ quan chuyên môn giám định để xác định tỷ lệ thương tật của người bị hại.
Ngoài trách nhiệm hình sự, người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm dân sự là bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
Theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi của mình gây ra, bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
Ngoài ra, người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.  
Trường hợp em bạn gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự thì em của bạn vẫn phải bồi thường thiệt hại như đã viễn dẫn đối với người bị hại.

Quyền hạn mới được bổ sung của cảnh sát cơ động?

Theo Khoản 2 Điều 9 Nghị định 27/2010/NĐ-CP ngày 24/3/2010 quy định về nhiệm vụ của cảnh sát giao thông đường bộ, các lực lượng cảnh sát khác và công an xã khi phối hợp tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cảnh sát cơ động có các nhiệm vụ như sau:
“a) Thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo sự chỉ đạo, điều hành của cảnh sát giao thông đường bộ và theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền khi tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng;
c) Thống kê, báo cáo các vụ, việc vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ; kết quả công tác tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo sự phân công trong Kế hoạch đã được phê duyệt”.
Theo khoản 4 Điều 68 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, cảnh sát trật tự, cảnh sát phản ứng nhanh, cảnh sát cơ động, cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm sau:
- Đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy mà không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định.
- Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư.
- Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m.
- Tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ.
- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc kiểm soát giao thông.
- Điều khiển xe trong tình trạng say xỉn.
- Điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ.
- Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh…
Quá trình tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng thì lực lượng cảnh sát cơ động có quyền xử phạt hành chính đối với một số lỗi vi phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
Kể từ ngày 20/12/2015 khi Thông tư số 58/2015/TT-BCA ngày 03/11/2015 của Bộ Công an quy định về việc tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội của lực lượng cảnh sát cơ động chính thức có hiệu lực, những nội dung về nguyên tắc của hoạt động tuần tra, nhiệm vụ, thẩm quyền xử phạt hành chính,… của lực lượng cảnh sát cơ động sẽ được điều chỉnh bởi Thông tư này.
Thông tư mới bổ sung thêm các quy định về quyền hạn của cảnh sát cơ độngtheo đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát các chiến sĩ cảnh sát cơ động sẽ có các quyền hạn sau:
“1. Kiểm soát người, phương tiện, đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát.
2. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo thẩm quyền.
3. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.
4. Yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết vụ, việc liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
5. Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật, động vật nghiệp vụ phục vụ hoạt động tuần tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.
6. Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an”.